Trước khi nhập viện, bệnh nhân xuất hiện cơn co giật và khó thở tại nhà. Khi được đưa đến bệnh viện cấp cứu, bệnh nhân trong tình trạng hôn mê với thang điểm Glasgow chỉ còn 8 điểm, mạch quay nhỏ, huyết áp tụt còn 90/60 mmHg, độ bão hòa oxy trong máu (SpO₂) giảm xuống 86%. Ngay sau đó, bệnh nhân ngưng tim và được các y bác sĩ khẩn trương tiến hành hồi sức tim phổi, hỗ trợ thở máy để duy trì sự sống.
Kết quả điện tim cho thấy bệnh nhân bị block nhĩ thất hoàn toàn – một rối loạn dẫn truyền tim nguy hiểm khiến tín hiệu điện từ tâm nhĩ không thể truyền xuống tâm thất. Khi đó, tim chỉ còn hoạt động nhờ nhịp thoát với tần số rất chậm, khoảng 34 – 40 lần/phút, không đủ để đảm bảo tuần hoàn máu cho cơ thể. Để duy trì nhịp tim và ổn định huyết động, các bác sĩ đã tiến hành đặt máy tạo nhịp tạm thời.
Sau nhiều ngày điều trị hồi sức tích cực, tình trạng bệnh nhân dần cải thiện. Người bệnh tỉnh táo trở lại, cai được máy thở, các chỉ số huyết động và xét nghiệm sinh hóa ổn định. Tuy nhiên, qua theo dõi liên tục, hệ thống dẫn truyền của tim vẫn không hồi phục, bệnh nhân tiếp tục lệ thuộc hoàn toàn vào máy tạo nhịp tạm thời.
Nhận định đây là trường hợp block nhĩ thất hoàn toàn không hồi phục, sau 5 ngày theo dõi và hội chẩn chuyên môn, ê-kíp bác sĩ Khoa Tim mạch Can thiệp – Lão khoa đã quyết định thực hiện thủ thuật đặt máy tạo nhịp tim vĩnh viễn hai buồng cho bệnh nhân.
Ca phẫu thuật được tiến hành trong môi trường vô khuẩn tuyệt đối dưới sự hỗ trợ của hệ thống chụp mạch số hóa xóa nền (DSA). Các điện cực tạo nhịp được đưa qua đường tĩnh mạch dưới đòn trái vào buồng nhĩ phải và thất phải. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng các thông số hoạt động bằng hệ thống lập trình chuyên dụng và lựa chọn được vị trí tối ưu, các bác sĩ cố định điện cực, tạo túi dưới da vùng dưới đòn trái để đặt máy tạo nhịp và hoàn tất thủ thuật. Toàn bộ quá trình diễn ra trong khoảng 2 giờ, đảm bảo an toàn và thành công.
Sau phẫu thuật, nhịp tim bệnh nhân nhanh chóng trở về mức ổn định. Với hệ thống máy tạo nhịp hai buồng, thiết bị có khả năng hoạt động gần giống sinh lý tự nhiên của tim, giúp nhịp tim tăng giảm phù hợp với nhu cầu vận động và sinh hoạt hằng ngày của người bệnh. Chỉ một ngày sau phẫu thuật, bệnh nhân đã có thể đi lại, tự ăn uống và sinh hoạt nhẹ nhàng. Sau một tuần theo dõi, vết mổ khô, giảm đau, được cắt chỉ và xuất viện trong tình trạng sức khỏe ổn định.
ThS.BS. Nguyễn Hồng Vương thăm khám cho bệnh nhân
Theo ThS.BS. Nguyễn Hồng Vương, rối loạn nhịp tim, đặc biệt là nhịp tim chậm, có thể biểu hiện từ những triệu chứng rất mơ hồ như chóng mặt, mệt mỏi, khó thở, tức ngực khi gắng sức cho đến những biểu hiện nặng như choáng, ngất, co giật hoặc đột tử. Nhiều trường hợp dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác như rối loạn tiền đình, động kinh hay đột quỵ nên thường bỏ sót hoặc phát hiện muộn.
Người dân nên chủ động theo dõi nhịp tim bằng máy đo huyết áp điện tử, đồng hồ thông minh hoặc tự bắt mạch. Nếu phát hiện nhịp tim dưới 50 lần/phút kèm các triệu chứng bất thường hoặc dưới 40 lần/phút, cần đến cơ sở y tế để được thăm khám và thực hiện điện tim nhằm chẩn đoán sớm. Đối với những trường hợp nhịp chậm xuất hiện từng cơn, người bệnh có thể cần thực hiện Holter điện tim cùng các thăm dò chuyên sâu khác để xác định nguyên nhân và có hướng điều trị phù hợp.
Việc triển khai thường quy kỹ thuật đặt máy tạo nhịp tim tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi đã giúp người bệnh được điều trị kịp thời ngay tại địa phương, giảm gánh nặng chuyển tuyến, đồng thời khẳng định năng lực chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ bệnh viện.
Trong thời gian tới, Khoa Tim mạch Can thiệp – Lão khoa sẽ tiếp tục triển khai nhiều kỹ thuật chuyên sâu trong lĩnh vực nhịp học tim mạch như tạo nhịp hệ thống dẫn truyền (CSP), đặt máy phá rung tự động (ICD), máy tái đồng bộ cơ tim (CRT) và hướng tới phát triển lĩnh vực thăm dò, điều trị điện sinh lý tim nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng chăm sóc và điều trị cho người bệnh.
Thành công của ca bệnh là minh chứng rõ nét cho năng lực chuyên môn, khả năng làm chủ các kỹ thuật tim mạch hiện đại của đội ngũ y bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi, góp phần mang đến cơ hội điều trị hiệu quả cho người bệnh ngay tại địa phương và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.